Giới Thiệu Dịch Vụ Dự Án Tin Tức Đối Tác Liên Hệ    
Gọi cho chúng tôi
0937 89 99 89
   lc.tuong
Truy Cập
180101
Cơ hội để nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin

Cơ hội để nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin

TS. Trần Văn (*)
Chủ Nhật,  10/5/2009, 12:21 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè

Cơ hội để nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin

TS. Trần Văn (*)

 

Nhân viên quản lý hệ thống máy chủ của một doanh nghiệp ở TPHCM. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) - Trong các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ, vị trí của đầu tư cho hạ tầng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) còn rất khiêm tốn. Trong chừng mực nào đó, chúng ta có thể xem hạ tầng CNTT của Việt Nam hiện nay là một trong những “điểm nghẽn tăng trưởng” của nền kinh tế.

CNTT kém thì khả năng cạnh tranh cũng kém

Lấy một số ví dụ để so sánh. Trong gói kích cầu của Chính phủ Mỹ 787 tỉ đô la Mỹ, thì 2,8% cho ứng dụng CNTT trong y tế, 1,7% để đầu tư ứng dụng CNTT trong sử dụng hợp lý và tiết kiệm năng lượng, 1,5% để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ (R&D) và 0,91% dành cho phát triển băng thông rộng. Trong gói kích cầu 10,8 tỉ đô la Mỹ của Canada thì 10,5% đầu tư cho R&D, 4,6% đầu tư ứng dụng CNTT trong y tế và 2,1% đầu tư phát triển băng thông rộng ở nông thôn.

Vị trí đặt quảng cáoGần với chúng ta hơn, Malaysia đã dành 1,7 tỉ đô la Mỹ trong gói kích cầu 19 tỉ đô la để xây dựng thư viện điện tử, trung tâm cộng đồng băng thông rộng với mục tiêu đến năm 2010 nâng gấp hai lần số hộ gia đình kết nối Internet - từ 21% hiện nay lên 50% - và cấp bốn giấy phép WiMAX để phủ sóng 40% số hộ vào cuối năm nay.

Còn nhớ ngay sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc đã cho các hộ gia đình thu nhập thấp thuê 50.000 máy tính trong bốn năm và cung cấp miễn phí kết nối Internet băng thông rộng trong năm năm, đồng thời cung cấp máy tính miễn phí cho các trường học.

Người ta cũng đã tính được rằng, với việc phát triển băng thông rộng, giá trị tăng thêm của cộng đồng sẽ gấp 18-20 lần so với lợi ích của nhà khai thác mạng. Nếu chậm trễ trong phát triển mạng, cứ ba năm giá trị tăng thêm sẽ giảm đi 25%.

Các chuyên gia quốc tế đã làm tổng kết, trong ba năm thực hiện chương trình phát triển kết nối Internet, với nguồn vốn 7 triệu đô la, bang Kentucky của Mỹ đã tăng số hộ gia đình kết nối Internet băng thông rộng từ 60% năm 2005 lên 97% năm 2008, mang lại 63.000 việc làm mới với tổng thu nhập từ lương 2,1 tỉ đô la Mỹ, tiết kiệm 22,6 triệu đô la tiền khám chữa bệnh, 92,1 triệu đô la tiền xăng xe đi lại hàng năm, giảm 46,7 triệu galon khí thải carbon hàng năm.

Có thể nói, hạ tầng CNTT kém phát triển là một trong những nguyên nhân tạo ra sự kém cạnh tranh của hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam. Lấy một vài thí dụ như các ngành nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu. Thông tin về thị trường, về giá cả chậm đến được với vùng sâu vùng xa, nhất là các vùng chuyên canh lớn về nông, thủy sản ở ĐBSCL, dẫn đến việc tiêu thụ hàng hóa nông sản khó khăn, dễ bị ép cấp, ép giá.

Hạ tầng CNTT kém đã cản trở việc đưa các ứng dụng CNTT về nông thôn như thị trường hàng hóa giao sau, mua bán vật tư nông nghiệp trực tuyến không phải qua trung gian và được giá tốt, chất lượng đảm bảo; mua bán con giống, cây giống hoặc có thể tránh được cả nạn phân bón giả, thuốc trừ sâu giả... Nếu có hạ tầng CNTT tốt chúng ta có thể huy động được chất xám của các chuyên gia tư vấn trực tuyến về nông nghiệp từ các viện các trường đại học hay cơ quan quản lý để cảnh báo kịp thời về sâu bệnh, dịch bệnh… cho người nông dân.

Trong y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho dân rất lớn nhưng lại thiếu phương tiện và bác sĩ. Chúng ta có thể xây nhiều bệnh viện nhưng chưa hẳn đã có ngay đội ngũ chuyên gia y tế, y bác sĩ giỏi. Hạ tầng CNTT tốt sẽ giúp triển khai các dịch vụ tư vấn, khám chữa bệnh trực tuyến, sử dụng được các chuyên gia đầu ngành ở các trung tâm y tế lớn phục vụ cho các vùng xa. Thông tin về dịch bệnh được phổ biến nhanh chóng cùng các biện pháp phòng ngừa, chữa trị sẽ giảm thiểu những tổn thất về sinh mạng con người cũng như chi phí của xã hội. Trong giáo dục và đào tạo, hạ tầng CNTT tốt mang lại nhiều cơ hội cho giáo dục từ xa, tạo cơ hội cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy có hiệu quả trên mạng….

Cơ hội để tạo sự đột phá về hạ tầng CNTT

Việt Nam hiện mới có khoảng 2 triệu thuê bao Internet băng thông rộng, chiếm khoảng dưới 10% số hộ gia đình. Vì vậy, tiềm năng phát triển còn rất lớn. Rõ ràng phát triển băng thông rộng không dây là con đường nhanh nhất để mọi người có thể đến với Internet, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Hạ tầng CNTT, viễn thông tốt sẽ thu hút cộng đồng CNTT tham gia vào quá trình thiết kế nội dung thông tin cung ứng cho xã hội; nếu được đầu tư sẽ kéo theo hàng triệu máy tính nối mạng, tạo ra nhiều công ăn việc làm, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia. Băng thông rộng rõ ràng có tác động lan tỏa tới các ngành kinh tế quốc dân như y tế, giáo dục, điện năng, giao thông, môi trường...

Điểm nhấn chung của các giải pháp kích cầu khu vực này là kết hợp xây dựng hạ tầng Internet băng thông rộng, càng nhanh càng tốt, giá càng rẻ càng tốt. Nếu chúng ta đưa ra chương trình một triệu máy tính cho giáo viên và một triệu máy tính cho y tế, nông dân, mà không có mạng Internet băng thông rộng thì cũng chẳng làm gì được. Mới đây, nhiều báo đã đăng tin về khoản tài trợ gần 2,5 triệu đô la Mỹ từ Quỹ Bill &Melinda Gates nhằm nâng cao năng lực cho hệ thống thư viện công cộng và hỗ trợ việc truy cập Internet tại Việt Nam với mục đích hướng tới việc mở rộng tiếp cận thông tin của người dân các vùng sâu vùng xa và tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Việt Nam. Nhưng nếu có mạng Internet băng thông rộng thì những chương trình như thế này mới phát huy được tối đa hiệu quả.

Thời điểm hiện nay có thể nói là cơ hội để Việt Nam tạo sự đột phá trong phát triển hạ tầng CNTT và ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Cần có những gói kích cầu riêng cho ngành CNTT, cả về phát triển hạ tầng CNTT - viễn thông, phần mềm và đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Chính phủ có thể nghiên cứu đưa vào gói kích cầu các chương trình như: ứng dụng CNTT trong chẩn đoán và khám chữa bệnh từ xa (có thể tính toán lồng ghép vào trong chương trình trái phiếu chính phủ về y tế); CNTT trong học tập và giảng dạy (lồng ghép với chương trình kích cầu giáo dục, hỗ trợ lãi suất cho sinh viên vay để học tập); trong phát triển Internet băng thông rộng cho vùng sâu, vùng xa, phục vụ giao dịch thương mại trực tuyến, theo dõi thị trường giá cả nông sản và vật tư nông nghiệp, tư vấn khuyến nông, khuyến ngư (lồng ghép trong chương trình kích cầu ở nông thôn, hỗ trợ nông dân); chỉ đạo, điều hành trực tuyến hoạt động của Nhà nước; tuyên truyền phổ biến chính sách, thông tin về môi trường và phòng chống thiên tai, dịch bệnh, nguy cơ biến đổi khí hậu…

Có thể xem mạng Internet băng thông rộng như là dòng điện, còn máy tính được xem như là bóng đèn của thế kỷ thứ 21. Nếu có điện, người dân mới đi mua bóng đèn để thắp sáng. Nếu có “điện” và có “đèn” thì chắc chắn cuộc sống sẽ văn minh lên nhiều, kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, mạng Internet băng thông rộng chỉ có tại các thành phố lớn, còn vùng nông thôn với hơn 60% dân số vẫn chưa được tiếp cận. Chi phí phát triển mạng cáp quang hay điện thoại cố định đến các vùng này tốn kém. Công nghệ 3G thì mới được chuẩn bị triển khai, hay việc phủ sóng băng thông rộng WiMAX đang được thí điểm tại Lào Cai. Cần có những quyết định nhanh chóng để thúc đẩy băng thông rộng đi vào cuộc sống nhanh hơn.

________________________________

(*) Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau

» Trở về